Đề phòng sa tử cung


Spread the love

Sau tử cung những điều cần biết và cách phòng chống

 Tử cung tuy nhỏ (dài 7-8 cm, rộng 4-5cm, dày 2-3cm) nhưng lại có đôi dây chằng duy trì vị trí bình thường của nó. Dây chằng tròn khởi đầu ở mặt trước của 2 góc tử cung, sau đó, vươn xuống dưới ở phía trước cho đến thành xương chậu 2 bên, làm cho đáy tử cung nghiêng về phía trước. Dây chằng rộng là một đôi dây gấp nếp ở phúc mạc dạng cánh, bắt đầu từ 2 bên tử cung cho đến thành xương chậu làm cho tử cung ở chính giữa khoang xương chậu. Dây chằng chủ ở phần dưới đáy của dây chằng rộng, đi từ hai bên rìa cổ tử cung sang đến thành bên xương chậu, là tổ chức quan trọng cố định vị trí của cổ tử cung.

 Dây chằng xương cùng thì từ chỗ mé trên của mặt sau cổ tử cung, quấn qua trực tràng đến màng gân mặt trước cột sống xương cùng đột thứ 2, thứ 3, kéo cổ tử cung ra phía sau, lên phía trên, gián tiếp luôn giữ cho vị trí của tử cung nghiêng về phía trước. Ngoài ra, tử cung còn được cơ bắp của đáy xương chậu và màng gân đỡ. Cho nên, trong trường hợp bình thường, đáy tử cung ở hơi dưới mặt bằng miệng vào của xương chậu, miệng ngoài cổ tử cung tiếp cận với mặt bằng gai xương chậu; thân tử cung nghiêng về phía trước, cổ tử cung thì hướng về phía sau, đồng thời, cả hai hình thành góc tù, cho nên tử cung vừa nghiêng về phía trước vừa hơi gập về phía trước.

 Gọi là sa tử cung là chỉ tử cung từ vị trí bình thường dọc theo âm đạo tụt xuống, miệng ngoài cổ tử cung sa tới dưới mức gai xương chậu, thậm chí có trường hợp toàn bộ tử cung lại thoát ra khỏi lỗ âm đạo. Tuy những năm gần đây đã có chú ý đến sinh đẻ có kế hoạch, trẻ được sinh ra ít nhưng bệnh sa tử cung vẫn còn thấy ở nhiều phụ nữ.

 Mức độ sa tử cung có người nặng có người nhẹ. Nếu tử cung di chuyển xuống dưới, vị trí tuy thấp hơn bình thường nhưng cổ tử cung vẫn ở trong âm đạo, thì gọi là sa tử cung ở độ I. Giả sử thân tử cung đã vào trong âm đạo, cổ tử cung nhô ra ngoài âm vào thì gọi là sa tử cung ở độ II. Nếu cổ tử cung và thân tử cung đều đã thoát ra ngoài âm đạo, thì gọi là sa tử cung ở độ III. Tử cung đang ở vị trí bình thường vì sao lại di chuyển xuống phía dưới và lòi ra ngoài lỗ âm đạo? Chủ yếu là do tổn thương khi sinh đẻ gây nên.

 Khi sinh đẻ, bất luận là đẻ tự nhiên hay là dùng thủ thuật trợ sản ở âm đạo, dây chằng tử cung, tổ chức bên cạnh tử cung và hoành cách hố chậu đều có khả năng vươn rộng ra quá độ hoặc bị xé rách, nứt, tổn thương. Những điều đó tất nhiên là ánh hưởng đến việc nâng đỡ tử cung lên. Ngoài ra, sau khi sinh do tổ chức nâng đỡ tử cung lỏng nhão, tử cung thường ngả xiêu về phía sau, nếu thường xuyên nằm ngửa càng dễ phát sinh. Kết quả nghiêng về phía sau của tử cung làm cho trục tử cung song hành với trục âm đạo, như vậy càng tạo điều kiện để cho tử cung sa xuống.

 Nếu sau khi sinh ngủ không đủ, nghỉ ngơi không tốt, tham gia lao động thể lực quá sớm, thường xuyên phải đứng trong thời gian dài để làm việc, hoặc bị chứng bệnh ho mạn tính, bí đại tiện dai dẳng không khỏi v.v.. làm cho áp lực trong bụng trong thời gian khá dài, ở trong tình trạng lên cao, sẽ thúc đẩy tử cung dọc theo phương hướng của âm đạo di chuyển vị trí xuống phía dưới, hình thành sa tử cung ở những mức độ khác nhau. Tử cung sa xuống thường phát sinh ở những năm cuối hoặc cho mãi đến sau khi mãn kinh mới bắt đầu tăng nặng nghiêm trọng. Đó là vì công năng buồng trứng lúc đó đã suy thoái, mức Estrogen đã hạ thấp, bộ máy sinh sản đã thoái hóa, tổ chức thiếu tính đàn hồi, làm cho tổ chức nâng đỡ tử cung vốn đã suy yếu càng trở nên lỏng nhão rã rời, không còn sức nữa. Đương nhiên khi dinh dưỡng không tốt, thể chất hư nhược, cơ bắp ở đáy khoang chậu, dây chằng ở màng gân và ở tử cung trở nên mỏng yếu, trường lực hạ thấp, cũng là những nhân tố gây bệnh.

 Sa tử cung tất nhiên gây nên khó chịu. Khó chịu thường thấy nhất là cảm thấy đau quặn bụng dưới và đau mỏi thắt lưng, sau khi lao động mệt nhọc, bệnh càng tăng nặng hơn, qua nghỉ ngơi rồi bệnh sẽ giảm nhẹ đi. Những trường hợp tương đối nghiêm trọng, người bệnh tự cảm thấy như có một cục gì đó từ âm đạo tụt ra, khi đứng quá lâu, đại tiện hoặc lao động, cục đó tăng to sau khi nằm nghỉ nó lại rút trở về và nhỏ lại. Cùng với sự phát triển của bệnh tình, cục sa xuống lòi ra đó dần dần tăng to, đồng thời không thể tự động thu co về được, cần phải lấy tay đẩy vào; cuối cùng, thậm chí hễ đứng lên là nó sẽ tụt ra bên ngoài. Cổ tử cung thò ra, do đã nhiều ngày thò ra bên ngoài, thường xuyên bị ma sát, rất dễ nứt, vỡ da, bị cảm nhiễm, trở nên phì đại, hoặc loét mà chảy ra bạch đới và nước máu giống như mủ. Bàng quang nằm ở phía trước cửa tử cung, giữa chúng với nhau có mối quan hệ mật thiết, khi tử cung sa xuống, thoát ra, thường làm cho niệu đạo cong ngập và bàng quang chuyển vị trí, do đó, tiểu tiện nhiều lần, khi tiểu tiện bài xuất nước tiểu khó khăn, thậm chí có thể sinh thêm bệnh bội nhiễm nước tiểu ứ đọng và mất khả năng khống chế. Sau khi sa tử cung, do tuần hoàn huyết dịch phát sinh chướng ngại, tử cung ứ máu thường sẽ gây nên kinh nguyệt ra quá nhiều.

 Bệnh sa tử cung hoàn toàn có thể đề phòng được. Mấu chốt là ở việc xử lý chính xác quá trình sinh đẻ và chú ý vệ sinh thời nghỉ sau khi sinh. Đối với bản thân sản phụ, khi sinh đẻ, nhất định phải thực hiện được việc không nín hơi dùng lực quá sớm và quá mạnh để răn đẻ. Đối với người đỡ đẻ, khi đỡ trẻ ra đời can phải chú ý rút ngắn sản trình thứ hai, khi lấy nhau thai ra không được dùng lực quá mạnh kéo tử cung xuống, sau khi kết thúc sản trình cần đẩy tử cung từ thành bụng lên phía trên, làm cho tử cung dừng lại ở vị trí tương đối cao, mặt khác, cần kịp thời phát hiện và khâu cẩn thận những viết nứt vỡ ở sản đạo và tổ chức đáy khoang chậu. Thời gian nghỉ đẻ sau khi sinh cần nghỉ ngơi đầy đủ, chú ý dinh dưỡng, đối với những sản phụ thể chất hư nhược càng cần phải chăm sóc cẩn thận.

 Sau khi sinh còn phải tích cực tiến hành những động tác tập thể thao thể dục để rèn luyện cơ bắp ở đáy khoang chậu và ở thành bụng, tránh làm những công việc nhà cũng như lao động quá sớm và quá nặng. Kiểm tra sau khi sinh để phát hiện tử cung đã phục hồi trở lại như cũ chưa, nếu cần lập tức uốn nắn lại ngay. Còn nếu phụ nữ bị những chứng bệnh như ho mạn tính hoặc bí đại tiện mạn tính, chữa mãi không khỏi thì vẫn cần phải tích cực kiên trì điều trị đến cùng.